Tàng Kinh Các | HÀN LÂM VIỆN
4 subscribers
1 link
Nơi lưu trữ những bí kíp thất truyền về "Nghề Trading"

Tàng Kinh Các | HÀN LÂM VIỆN
https://t.me/HLV_Library

Zillex Sử Kí | HÀN LÂM VIỆN
https://t.me/HLV_Zillex
Download Telegram
CÁC NHÀ TÀI PHIỆT KIẾM TIỀN NHƯ THẾ NÀO ?

Trước tiên, họ mở hầu bao để thúc đẩy tín dụng phát triển, tạo nên tình trạng thị trường bong bóng, rồi sau khi tài sản của người dân đã đổ dồn vào cơn sóng đầu cơ thì rút mạnh vòng quay lưu chuyển tiền tệ, tạo nên suy thoái kinh tế và sụt giá tài sản. Khi giá tài sản sụt xuống chỉ còn 1/10, thậm chí, là 1/100 giá trị thực thì các nhà tài phiệt lại ra tay mua vào.

Trong ngôn ngữ của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế thì hành động này được gọi là “xén lông cừu” (fleecing of the flock). Sau khi Ngân hàng Trung ương tư nhân được thành lập, cường độ và phạm vi của hành động “xén lông cừu” đã đạt đến mức chưa từng có tiền lệ trong lịch sử.

Hành động xén lông cừu được các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế ra tay gần đây nhất chính là tạo ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 trên cơ thể các con “hổ nhỏ” và “rồng nhỏ” của châu Á. Tương tự, chúng ta có thể thấy cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 cũng là cuộc “xén lông cừu” trên phạm vi toàn cầu.
LẠM PHÁT VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT

LẠM PHÁT LÀ GÌ?

Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.
Lạm phát có 3 mức độ:
* Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%
* Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000% * Siêu lạm phát: trên 1000%
Trong thực tế, các quốc gia kỳ vọng lạm phát chỉ xảy ra khoảng 5% trở xuống. Bạn thử nghĩ đi, một năm tăng trưởng kinh tế kỳ vọng khoảng 10% thì tiền mất giá tầm 5% là vừa đủ đẹp. Tính ra quốc gia đó có 5% tăng trưởng thực sự.

Một số khái niệm liên quan khác
* Giảm phát: là sự sụt giá chung của hàng hoá trong nền kinh tế
* Thiểu phát: là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp. Ở Việt Nam, có nhiều người thường nhầm lẫn thiểu phát với giảm phát
* Siêu lạm phát (trên 1000%): là tình trạng lạm phát cao nhất, có tác động phá hoại nền kinh tế, vòng xoáy ngoài tầm kiểm soát
* Tái lạm phát: Nỗ lực nâng cao mức giá chung để chống lại áp lực giảm phát.
CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT

Bạn hãy tạm coi tiền tệ như một món hàng trao đổi thời còn hàng đổi hàng. Món hàng nào có giá thì món đó sẽ đổi được nhiều hơn món hàng khác. Đô la Mỹ (USD) là đồng tiền có giá, bạn có thể dùng nó để mua hàng hóa ở bất kỳ đâu vì nó là đồng tiền có giá trị, được bảo chứng toàn cầu.
Còn một quốc gia sản xuất yếu kém, hàng hóa khan hiếm thì giá cả hàng hóa tăng. Giá tăng thì phải bỏ nhiều tiền hơn mua hàng hóa. Mà khi tiền mang đi quá nhiều bất tiện, nhà nước sẽ in các tờ tiền mệnh giá lớn để hỗ trợ lưu thông hàng hóa gọn gàng hơn. Khi đó lạm phát bắt đầu xảy ra. Có rất nhiều nguyên nhân, tuy nhiên "cầu kéo" và "chi phí đẩy" được coi là 2 nguyên nhân chính gây ra lạm phát.

Lạm phát do cầu kéo
Khi nhu cầu thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ khiến giá cả của mặt hàng đó tăng theo. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”.
Ở Việt Nam, giá xăng tăng lên kéo theo giá cước taxi tăng lên, giá thịt lợn tăng, giá nông sản tăng.... là một ví dụ điển hình.

Lạm phát do chi phí đẩy
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, thuế... Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế tăng lên được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”.

Lạm phát do cơ cấu
Với các ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp sẽ tăng thu nhập “danh nghĩa” cho người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, mà doanh nghiệp cũng phải theo xu thế chung, buộc phải tăng tiền thu nhập cho người lao động. Và vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và sẽ vô tình làm phát sinh lạm phát.

Lạm phát do cầu thay đổi
Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.

Lạm phát do xuất khẩu
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượng hàng nhiều hơn khả năng cung cấp), khi đó hàng hoá được thu gom để xuất khẩu sẽ khiến lượng hàng cung cấp cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát.

Lạm phát do nhập khẩu
Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên. Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát.

Lạm phát tiền tệ
Khi lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua trái phiếu theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.
Channel name was changed to «Liwave Library»
SERIES TỪ ĐIỂN CRYPTO (A)

– Address – Địa chỉ ví
Một chuỗi các ký tự và chữ số được dùng để nhận tiền mã hóa. Nó hoạt động tương tự như tên tài khoản ngân hàng mà ta thường sử dụng và hoàn toàn có thể mang chia sẻ công khai với người khác.

– Airdrop
Hành động phân bổ một đồng tiền mã hóa đến cho người nắm giữ một đồng tiền mã hóa khác.

– All Time High (ATH) – Mức giá cao nhất mọi thời đại
Chỉ mức giá cao nhất của một tài sản trong lịch sử tồn tại của nó. Các đồng tiền mã hóa trong giai đoạn cuối năm 2020 – đầu năm 2021 đã tăng trưởng vượt bậc, liên tục thiết lập nên các ATH mới.

– All Time Low (ATL) – Mức giá thấp nhất mọi thời đại
Chỉ mức giá thấp nhất của một loại tài sản trong lịch sử tồn tại của nó.

– Altcoin
Danh từ dùng để chỉ các đồng tiền mã hóa không phải Bitcoin – như là Ethereum, Litecoin, Monero… Đây là viết tắt của từ “Alternative Coin : những đồng tiền thay thế”, những đồng tiền mã hóa được tạo ra sau Bitcoin.

– Alcoin season – ‘Mùa Altcoin’
Altcoin Season là thuật ngữ đề cập đến việc hàng loạt Altcoin bắt đầu tăng giá một cách điên loạn. Vào thời điểm này, việc đầu tư vào các Altcoin trở nên vô cùng dễ dàng khi hầu như mua Altcoin nào cũng dễ dàng sinh ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư.

– Anti Money Laundering (AML) – Luật phòng chống rửa tiền
Các bộ luật và quy định tại các nước để phòng chống hoạt động giao dịch tiền tệ bất hợp pháp, yêu cầu các sàn giao dịch và trung gian chuyển tiền phải báo cáo các hành động khả nghi.

– Arbitrage – Kiếm lời từ chênh lệch giá
Tận dụng chênh lệch giá của một loại tài sản ở hai thị trường hay sàn giao dịch khác nhau, thường là có sự cách biệt về khoảng cách quốc tế. Phần chênh lệch giá sẽ trở thành lợi nhuận dễ kiếm của người đầu cơ.

– ASIC 
Là viết tắt Application Specific Integrated Circuit (Vi mạch tích hợp chuyên dụng) – một kiểu chip máy tính. Trong ngành tiền mã hóa, nó được sử dụng để tăng độ hiệu quả của hoạt động đào coin (xem mục Mining để biết thêm chi tiết).

– Ask Me Anything (AMA) 
Là một hoạt động hỏi-đáp giữa một dự án với cộng đồng nhà đầu tư nhằm quảng bá cho dự án.

– Ask Price – Giá bán
Mức giá thấp nhất mà người bán có thể chấp nhận.

– API 
Là viết tắt của Application Programming Interface (Giao diện lập trình ứng dụng) – một phần mềm đóng vai trò làm trung gian hoặc cầu nối giữa hai ứng dụng khác nhau, cho phép chúng tương tác với nhau.

– Atomic Swap 
Cơ chế chuyển đổi tiền mã hóa giữa các blockchain khác nhau mà không cần thông qua trung gian.

– Attestation Ledger – Sổ cái chứng thực
Là một loại sổ cái phi tập trung mã hoá các thoả thuận, tuyên bố cùng các thông tin khác vào blockchain. Có thể cung cấp bằng chứng để “chứng thực” cho một sự kiện gì đó thật sự đã xảy ra.

– Automated Market Maker (AMM) – Cơ chế tạo lập thị trường tự động
Là một hệ thống cung cấp thanh khoản thông qua việc tự tạo giao dịch trên thị trường.
SERIES TỪ ĐIỂN CRYPTO (B)

– Bagholder
Một người vẫn cứ ôm khư khư tài sản sau khi trải qua một đợt ‘pump-and-dump’ (xem chi tiết ở mục pump-and-dump). Cũng có thể được dùng để chỉ nhà đầu tư vẫn ôm coin bất chấp việc giá trị của nó đang suy giảm.

– Bear
Là một người bi quan về giá trị thị trường mà mong đợi nó sẽ đi xuống. Người này còn được gọi là “bearish” về thị trường và kỳ vọng về giá.

– Bear Market – Thị trường giá giảm
Giai đoạn khi xu hướng chủ đạo trên thị trường là mất giá.

– Bear trap – Bẫy giảm giá
Một tín hiệu giả của thị trường khi xu hướng đi lên của một loại tài sản có vẻ là sắp hướng xuống, nhưng thật ra không phải như vậy. Những nhà đầu tư thế giá xuống (short position) buộc phải rời bỏ thị trường nếu không muốn mất tiền.

– Bitcoin
Đồng tiền mã hóa phi tập trung đầu tiên tạo ra hồi năm 2008 bởi Satoshi Nakamoto. Cho phép bạn gửi và nhận tiền mà không cần thông qua trung gian như giới ngân hàng.

– Bitcoin ATM
Một máy ATM cho phép người sử dụng mua và bán Bitcoin.

– Bitcoin Cash
Một phiên bản khác (một fork) của Bitcoin được tạo ra vào năm 2017, tập trung vào xử lý nhu cầu lưu lượng giao dịch khổng lồ. Được tạo ra vì sự bất đồng chính kiến của cộng đồng người dùng về làm sao để phát triển đồng tiền mã hóa số 1 thế giới.

– BitLicense
Một giấy phép kinh doanh cấp cho các doanh nghiệp tiền mã hóa tại New York. Được tạo ra và quản lý bởi Cơ quan Dịch vụ Tài chính tiểu bang New York (NYDFS).

– Block – Khối
Một loạt các giao dịch xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định (10 phút đối với Bitcoin). Sau đó các giao dịch được dồn vào một block và thêm vào blockchain.

– Block Confirmation
Chỉ số lần xác nhận mà một block có, thể hiện độ uy tín của block đó. Mỗi block đứng trước block đang đề cập đại diện cho một lần xác nhận block.

– Block Explorer – Trình khám phá blockchain
Một công cụ để theo dõi chi tiết giao dịch, tài khoản và các hoạt động khác trên blockchain. Tuỳ vào đồng tiền mã hóa mà thông tin được tiết lộ là toàn bộ hay bị giới hạn.

– Block Halving – Chia đôi phần thưởng đào block
Lượng Bitcoin mới được tạo ra trong từng block sẽ bị chia nửa mỗi bốn năm một lần để duy trì đặc tính quý hiếm của đồng tiền. Đợt cắt giảm 50% này được gọi là ‘halving’. Lần halving tiếp theo sẽ được thực hiện vào năm 2024.

– Block Height – Số block
Chỉ số lượng block trên một blockchain của một đồng tiền mã hóa. Nó bắt đầu với block đầu tiên, hay còn gọi là “block nguyên thuỷ” (số block bằng 0).

– Block Reward – Phần thưởng đào block
Phần thưởng dành cho những ai đã sử dụng năng lực máy tính của mình để xử lý giao dịch trên mạng lưới blockchain. Phần thưởng bao gồm tiền mới do hệ thống cung cấp và phí giao dịch. Thuật ngữ “Trâu cày” ra đời từ đây.

– Block Size – Kích thước block
Cho thấy kích thước lưu trữ của mỗi block trên một blockchain, giúp xác định số lượng giao dịch có thể được dồn và xử lý trong một block. Đối với Bitcoin, kích thước block hiện tại là 1 MB.

– Blockchain
Một bản dữ liệu được lưu trữ phi tập trung và bất biến của tất cả các giao dịch mà từng được thực hiện. Nó dồn các giao dịch một cách có trật tự vào block và lưu trữ nó vĩnh viễn.

– Bolliger Band – Dải Bollinger
Một công cụ phân tích kỹ thuật giúp chỉ ra xu hướng biến động của giá một loại tài sản.

– BTC
BTC là ký hiệu viết tắt của Bitcoin, được nhiều sàn giao dịch và các nền tảng tài chính khác sử dụng.

– Bubble – Bong bóng
Chỉ những tài sản đang được giao dịch ở mức giá cao hơn nhiều giá trị nội tại của chúng.

– Bug Bounty
Phần thưởng cho việc phát hiện ra các lỗ hổng hay những vấn đề khác trong mã máy tính, thường được các công ty như sàn giao dịch hay nền tảng ví tạo ra để ngăn chặn nguy cơ bị tấn công.

– Bull
Là một người lạc quan và tự tin rằng giá trị thị trường sẽ tiếp tục đi lên. Người này còn được gọi là “bullish” về thị trường và kỳ vọng về giá.

– Bull Market – Thị trường giá tăng
Giai đoạn khi xu hướng chủ đạo trên thị trường là tăng giá.
SERIES TỪ ĐIỂN CRYPTO (B)

– Bull Trap – Bẫy tăng giá
Một tín hiệu giả của thị trường khi xu hướng đi xuống của một loại tài sản có vẻ là sắp hướng lên, nhưng thật ra không phải như vậy.
Những nhà đầu tư thế giá lên (long position) phải rời bỏ thị trường nếu không muốn mất tiền.

– Burn Coin – Đốt coin
Hoạt động thiêu hủy một phần lượng cung lưu hành của một đồng tiền nhằm tạo tác động giảm phát (tăng giá) cho đồng tiền ấy.

– Buy Wall – Tường mua
Chỉ một số lượng lớn lệnh mua ở một vùng giá nhất định trên sàn giao dịch.

– Byzantine Fault Tolerance (BFT)
Khả năng kháng lỗi “Bài toán Vị tướng Byzantine”.

– Byzantine Generals’ Problem – Bài toán Vị tướng Byzantine
Một lỗi đồng thuận khi thông tin sau khi truyền đạt nhiều lần trở nên bị bóp méo và không thể được xác minh.
TIẾNG VO VE BÊN TAI

Trong suốt quãng đời của trader chúng ta sẽ luôn bị tác động bởi những tiếng vo ve bên tai, tác động vào tâm lý của chúng ta. Tiếng vo ve đấy là gì:
- Là kèo của admin các group.
- Là tin tức tác động liên tục tới tâm trí.
- Là những nhận định của các chuyên gia.
- Là những kèo hứa hẹn x2 x3 x10 từ bạn bè, leader...
Từ đấy, đa phần các trader sẽ tăng vol, đẩy all in vốn và tài sản vào những kèo, và phi vụ đầu tư. Để rồi khi vấp ngã, chính chúng ta lại ngồi đổ thừa cho những lời tư vấn đấy.
Nhưng ít ai nhận ra rằng, chính bản thân chúng ta mới là người xuống tiền. Kẻ thù lớn nhất trong cuộc chơi tài chính là chính bản thân chúng ta.
Không 1 ai dám chắc rằng kèo và phi vụ sẽ ăn 100% . Tất cả chúng ta đều phải ý thức bằng việc quản lý vốn của mình cho mỗi lần đầu tư.
Hãy luôn cảnh giác với những tiếng vo ve tư vấn bên tai. Và hãy biết luôn đi tiền 1 cách hợp lý để có thể tồn tại trong trò chơi mua bán.
Hơn hết, hãy tự đi trên đôi chân của mình , nếu không 1 ngày nào đó bạn sẽ bị cõng bán thận ở phía bên kia biên giới.

Cre: Zetug
PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG THỊ TRƯỜNG CRYPTO

Có rất nhiều phương pháp giao dịch trên thị trường tài chính và điều này làm trader mới bối rối không biết bắt đầu từ đâu. Tuy nhiên, phần lớn các phương pháp giao dịch đều có thể chia ra thành 3 loại: Phân tích cơ bản, Phân tích kỹ thuật, và Phân tích tâm lí đám đông. Hầu hết trader hiện nay tập trung vào phân tích kỹ thuật nói chung và phân tích kỹ thuật trong việc tradecoin nói riêng, vì một số lý do vô cùng quan trọng sẽ được đề cập trong các phần tiếp theo của bài viết.

Phân tích kỹ thuật (technical analysis) là một phương pháp phân tích dự báo hướng của giá thông qua việc nghiên cứu các chỉ số trong quá khứ. Có rất nhiều cách để xác định xu hướng thị trường, nhưng hầu hết các nhà phân tích sẽ tập trung vào các phương pháp sau:
1. Mua khi giá gặp hỗ trợ, bán khi giá gặp kháng cự (bắt đỉnh, bắt đáy).
2. Mua khi giá phá kháng cự, bán khi giá phá hỗ trợ(breakout).
3. Mua khi chỉ báo A, bán khi chỉ báo B (chuyên dùng indicator: ma, bollinger band, ichimoku...).
4. Mua theo mô hình A, bán theo mô hình B (giao dịch theo mô hình).

Dù lựa chọn phương pháp nào, họ đều phải phân tích dựa trên mức giá trong quá khứ để xác định các xu hướng thị trường có khả năng lặp lại. Những xu hướng này sau đó được dùng để xác định tình hình thị trường tài chính hiện tại, cũng như các thời điểm mấu chốt để vào và thoát lệnh giao dịch.

Nguồn gốc của phân tích kỹ thuật
Phân tích kỹ thuật tồn tại kể từ khi thị trường tài chính được thúc đẩy bởi cung và cầu. Các ghi chép lịch sử cho thấy nhu cầu thương mại xuất hiện lần đầu vào thế kỷ 17 với thương nhân Đức và thế kỷ 18 với các nhà buôn gạo Nhật. Vào cuối thế kỷ 19, phân tích kỹ thuật trở nên nổi tiếng vì được chính người sáng lập cũng là biên tập viên của nhật báo Wall Street Journal, Charles Dow (tác giả của lý thuyết dow), giới thiệu tới các cộng đồng trader lớn.
Cùng thời với Charles Dow, ta có các nhà phân tích kỹ thuật chứng khoán khác như Ralph Nelson Elliott, người tạo ra lý thuyết sóng Elliott nổi tiếng; William Delbert Gann, người phát minh ra học thuyết Gann Angle, và Richard Demille Wyckoff, người được coi là nhà tâm lý học thị trường đầu tiên đưa ra giả thuyết rằng thị trường ngày hôm nay, với tất cả dữ liệu lịch sử được ghi lại, cần được so sánh với thị trường ngày hôm qua nhằm dự đoán các hành vi có thể lặp lại. Các nhà phân tích chứng khoán khôn ngoan sẽ dựa vào những hành vi này để nắm bắt cơ hội giao dịch tiềm năng.

Phân tích kỹ thuật có thực sự hữu dụng?
Thị trường tài chính bị tác động và ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố bao gồm: chính sách tiền tệ do ngân hàng trung ương quản lý, chính sách tài khóa do chính phủ cung cấp và nhiều yếu tố kinh tế phụ thuộc vào các công ty và người tiêu dùng. Nghiên cứu tất cả các yếu tố đó và nhận ra cách chúng tác động đến tài sản, thị trường tài chính khác nhau cũng như biết được yếu tố nào có tác động mạnh nhất là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Nghiên cứu dạng này được gọi là phân tích cơ bản.
Khi phân tích ảnh hưởng của các yếu tố trên, trader có thể mắc lỗi về nguyên nhân và kết quả, đặc biệt là đối với các trader nhỏ lẻ bị hạn chế thời gian và sự tập trung. Tuy nhiên, thật may là các nhà phân tích kỹ thuật có thể tập trung vào một kiểu dữ liệu duy nhất - biến động giá. Phân tích kỹ thuật còn được biết đến là phân tích biểu đồ trực tuyến, cho phép trader nghiên cứu và phân tích các hành động giá trong quá khứ.
Phân tích kỹ thuật có thể đưa ra các định hướng có tính chính xác cao giúp trader tìm ra điểm vào lệnh và thoát lệnh.
Nền tảng cơ bản của phân tích kỹ thuật

- Hành động giá phản ánh thị trường tài chính.
Nền tảng logic của phân tích kỹ thuật xuất phát từ lý thuyết của Dow với nhận định rằng giá cả phản ánh chính xác tất cả các thông tin liên quan. Do đó, bất cứ yếu tố nào có tác động đến cung và cầu chắc chắn sẽ xuất hiện trên biểu đồ trực tuyến. Việc nghiên cứu hay thậm chí là phân tích các thông tin kinh tế không ảnh hưởng tới hành động giá hầu như là vô dụng vì chúng không đảm bảo đủ điều kiện và đôi khi còn cung cấp dữ liệu không chính xác.

- Giá di chuyển theo xu hướng của thị trường tài chính.
Trader thường thích phân tích kỹ thuật theo xu hướng tự nhiên của thị trường, một hệ quả khác từ lý thuyết Dow. Thị trường tài chính có thể di chuyển theo xu hướng tăng - một thị trường giá tăng (Bullish Market) liên tục tạo ra đỉnh sau cao hơn đỉnh trước (higher high) và đáy sau cao hơn đáy trước (lower low). Nếu nhìn một cách tổng quát thì giá cả trông như đang di chuyển lên xuống trên một hành lang đi lên. Một hành vi thị trường tương tự có đặc tính là đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước (lower high) và đáy sau thấp hơn đáy trước (lower low) chính là xu hướng giảm - một thị trường giá giảm (Bearish Market).

Một xu hướng ngang được gọi là một thị trường đi ngang (ranging market) và nó không phải là vị thế yêu thích của các trader giao dịch theo xu hướng. Điều này là do trong các giai đoạn đi ngang của thị trường tài chính, hầu như không có cách nào để chắc chắn về những gì sẽ xảy ra tiếp theo. Thị trường đi ngang là giai đoạn giá tăng hoặc giảm không rõ ràng, không bên nào đủ mạnh để thống lĩnh thị trường cũng không bên nào đủ dài để hình thành xu hướng. Khi đó, thị trường tài chính dao động ở mức trung bình khoảng 60% thời gian. Vì vậy, việc xác định xu hướng là vô cùng quan trọng.
Hãy nhớ rằng phân tích kỹ thuật trong thị trường crypto không hề quan tâm đến câu hỏi "tại sao" mọi việc lại xảy ra như vậy. 'Tại sao xu hướng xảy ra?' có thể là một câu hỏi hợp lý, nhưng với một trader sử dụng phân tích kỹ thuật thì câu hỏi này hoàn toàn không liên quan. Họ không biết cách trả lời câu hỏi này. Đối với họ, sự tồn tại của các xu hướng chỉ đơn giản là một thực tế đã được chứng minh bằng thực nghiệm.

- Lịch sử lặp lại trên thị trường tài chính.
Hầu hết trader đều hoạt động theo một hình mẫu nhất định. Dựa trên hành vi này, các nhà phân tích kỹ thuật có thể xác định mô hình mẫu và giao dịch với tỷ lệ thành công cao hơn.Tất cả những gì họ cần là một chút dữ liệu thống kê, cùng với sự lặp lại và tỷ lệ đòn bẩy.

Mặc dù phân tích kỹ thuật thị trường tài chính, phân tích kỹ thuật rất phổ biến nhưng nhiều trader vẫn sử dụng kết hợp với phân tích cơ bản hoặc phân tích tâm lý thị trường. Phân tích kỹ thuật có thể xác định xu hướng, nhưng chính sự dịch chuyển cơ bản mới là tiền đề để tạo điều kiện cho những xu hướng đó phát triển.

Cuối cùng là phương pháp backtesting hay còn gọi là kiểm tra lại dữ liệu quá khứ (Historical backtesting). Phương pháp này dùng dữ liệu trong quá khứ để trader kiểm thử chiến lược giao dịch bằng phân tích kỹ thuật. Giống với bất kỳ dữ liệu thống kê nào về hành hành vi của con người, dữ liệu trong quá khứ không thể đảm bảo các xu hướng/mô hình mẫu trước đó sẽ tiếp tục tồn tại trong tương lai. Nó chỉ là một công cụ phân tích kỹ thuật mà thôi. Điều quan trọng nhất là bắt đầu giao dịch và học hỏi qua thực hành
Các nguyên tắc vàng trong lý thuyết sóng ELLIOTT

Elliott đã tạo ra 3 “nguyên tắc vàng” để giúp một nhà phân tích xác nhận xem chu kì này có phải là sóng ELLIOTT hay ko:

1. Sóng 2 không thể lùi về hơn 100% Sóng 1;
2. Sóng 3 không nên ngắn nhất, nhưng không nhất thiết phải dài nhất;
3. Sóng 4 không thể vào vùng của Sóng 1.

Nếu 1 trong 3 nguyên tắc vàng đó không được thỏa mãn, thì hãy ngừng cố gắng áp dụng Nguyên tắc sóng Elliott cho một xu hướng đang xem xét và nên tìm kiếm một xu hướng khác.

Đây là 3 nguyên tắc chính không thể thay đổi cũng như không thể phá vỡ, và còn một số nguyên tắc khác nhưng có thể thay đổi, thay thế. Một lần nữa chứng minh cho việc thực tế rằng thị trường không thể nào hoàn toàn dự đoán trước được.

Các nguyên tắc biến đổi:

- Sóng 2 sideway thì sóng 4 gấp, ngược lại sóng 2 gấp thì sóng 4 sideway;
- Sóng 2 sẽ hồi lại quanh các ngưỡng fibo sóng 1;
- Sóng 4 sẽ hồi lại quanh các ngưỡng fibo của sóng 3;
- Sóng 2 và sóng 4 sẽ hồi lại quanh vùng giá close dưới ema34 và 89.
- Với 1 chu kì tăng: thì sóng 3 và sóng 5 thể hiện dấu hiệu phân kì.
- Với 1 chu kì giảm: thì sóng 3 và sóng 5 thể hiện dấu hiệu hội tụ.
- Sóng 5 có thể thành công hoặc thất bại, Nếu sóng 5 thất bại sẽ tạo thành mô hình(2 đỉnh/2 đáy).